NHẼ ĐỜI

By Lê Đình Lai

     Trăng là cảm hứng của thơ

Rượu là men để ủ chua cuộc đời

     Tình thì sâu thẳm giếng thơi

Nông sâu tùy chốn tùy nơi dốc lòng

     Tiền là thứ để đem đong

Cái điều xấu tốt ở trong con người

     Bạc đời còn bạc hơn vôi

Mỏng dày nào sánh mây trời trên cao

     Gai đời dễ chịu đâu nào

Dính vào đau buốt máu trào tự tim

     Ngọt đời chớ vội mon men

Nuốt thành quả đắng khạc liền chẳng ra

     Cuộc đời người lẫn với ma

Nhẽ đời muôn vẻ liệu mà ngẫm suy

                                       L.Đ.L.

More...

LƠI CẢM ƠN

By Lê Đình Lai

Kính gửi các thi huynhm thi hữu đã họa bài XUÂN XINH

    Tôi đã chuyển các bài họa của   BS Tản. Hồ Văn Thiện Lê Trường Hưởng tới cụ giáo Trần Quang Thẩm. Cụ giáo rất cảm động trước tấm lòng và lời động viên của các thi huynh thi hữu.

    Cụ giáo gửi lời cảm tạ tới tới các thi huynh thi hữu và mong nhận được nhiều bài họa khác nưa. Cụ giáo gửi lời chúc sức khỏe tới các thi huynh thi hữu và gia đình.

   

More...

CHÙM THƠ KÝ ỨC TRƯỜNG SƠN

By Lê Đình Lai

ĐÊM HIẾM

Lâu rồi mới có một đêm

Máy bay chẳng có dù đèn cũng không

Cánh lái được dịp thung dung

Chân ga nhấn đến tận cùng vượt qua

Vừa nhô khỏi tán rừng già

Khắp đồi khắp núi chan hòa ánh trăng

Ngước lên nhìn thấy chị Hằng

Như đang cười để vui cùng lái xe

 

BẾN PHÀ

Hàng xe đậu dài trên bến

Dưới sông sóng rộn lời ca

Phà ơi đi nhanh tăng chuyến

Chớp lửa tiền tuyến gọi ta

 

YÊN TĨNH

Dưới tán cây rừng

Những chiếc võng im lìm yên tĩnh

Ôm bên trong cánh lái ngủ ngon lành

Ngủ lấy sức để đêm chạy tiếp

Tiền phương đang chờ những chuyến xe anh

 

TÌNH THÂN

Điếu thuốc chia đôi tớ với mình

Rít cho hóp má tỉnh tình tinh

Mai này xa cách còn đâu cảnh

Điếu thuốc chia đôi tớ với mình

L.Đ.L

More...

NẾU BỤT CHO ƯƠC GÌ...

By Lê Đình Lai

alt

Từ phương Nam đầy nắng

Em ra dịp trời quang

Đi chơi xa gặp rét

Áo ấm liệu có mang?

 

Vẫn biết em tháo vát

Chẳng lúng túng điều gì

Nhưng sao day dứt lạ

Nghĩ chặng đường em đi

 

Nếu Bụt cho ước gì

Anh ước ngay đến đó

Cởi áo khoác cho em

Giữa chiều đông lạnh gió.

L.Đ.L.

alt

More...

ĐẲNG CẤP

By Lê Đình Lai

 alt

KỄNH VÀ MÈO

 

Nói Mèo ăn vụng quả là oan

Ai bảo bày ra chẳng ngó ngàng

Bị đói thì đành xơi tạm vậy

Nếu no hẳn được tiếng rằng ngoan

 

Kễnh vồ lợn lớn trân trân ngó

Mèo lẻm miếng con vút vút đòn

Bởi Kễnh uy phong trùm khắp chốn

Còn Mèo oai vệ góc con con

 

Phận nào số nấy! Sách trời rồi

Thấy thiệt kêu hoài cũng thế thôi

Đẳng cấp Kễnh – Mèo đời vậy đó

Nhân tình thế thái. Chán bỏ sừ!

alt

More...

NGƯỜI ĐẦU TIÊN TRƯNG BÀY THƯ PHÁP CHỮ VIỆT CỔ TẠI HÀ NỘI. Lê Đình Lai

By Lê Đình Lai


      Nhà thơ - nhà thư pháp Lê Mỹ và bài thơ Xuân Cảm 
            được thể hiện bằng thư pháp chữ Việt cổ
        

 alt

NGƯỜI ĐẦU TIÊN TRƯNG BÀY

THƯ PHÁP CHỮ VIỆT CỔ  TẠI HÀ NỘI 

Đầu hồi bên phải nhà Thái học trong Ngày thơ Việt Nam lần thứ IX vừa qua không mấy lúc vắng người. Người ta thấy một “ông già” mắc áo tế gấm xanh đầu đội khăn xếp chân đi hia lúc thì đọc thơ lúc thì giải thích điều gì đó lúc thì tặng thơ cho độc giả… và có lúc  lại mời bạn thơ nhắp ly rượu quý đựng trong một quả bầu già đã được  đề thơ viết theo lối thư pháp rất đẹp. Thơ túi rượu bầu mà…

Đó là nhà thơ – nhà thư pháp Lê Mỹ.

Đã mấy năm nay năm nào cũng vậy cứ đến Ngày thơ Việt Nam tổ chức vào Tết Nguyên Tiêu ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám là Lê Mỹ lại trung bày những bài thơ của anh do anh viết theo lối thư pháp riêng của anh trên những tờ liễn màu.

Nguyên Tiêu Tân Mão năm nay Lê Mỹ  trưng bày ba mươi lăm bức thư pháp thơ như vậy với tiêu đề “ THƠ ĐỜI TẠP LUẬN”. Điều đặc biệt của lần trung bày này là có một số bài thơ anh viết thư pháp bằng Chữ Việt cổ.

Lê Mỹ không hẳn là người đầu tiên ở Hà Nội biết đọc và viết được chữ Việt cổ nhưng sáng tạo ra thư pháp chữ Việt cổ để thể hiện các bài thơ của mình và trưng bày trong không gian văn học – nghệ thuật như vậy thì anh là người đầu tiên.

Dịp lễ hội Chùa Láng (Chiêu Thiền tự) vừa qua Ban tổ chức đã tạo điều kiện cho anh và Câu lạc bộ thơ Tùng Lâm tổ chức triển lãm thơ – thư pháp trong suốt thời gian lễ hội. Khu triển lã không mấy lúc vắng người. Mừng nhất là số người quan tâm đến chữ Việt cổ khá đông nhất là các bạn trẻ. Anh và các bạn anh phải thay nhau giải thích để mọi người biết thêm về thứ chữ của tổ tiên cha ông để lại.

Từ nhỏ Lê Mỹ được ông ngoại dạy cho ít chữ thánh hiền được ông đọc cho nghe những bài thơ Đường. Cứ thế  thơ Đường luật  “ngấm”  dần vào anh. Đến nay các thể thơ luật Đường là một trong những thế mạnh của anh. Anh làm thơ không đến nỗi khó khăn lắm hình như mọi thứ đã có sẵn cả rồi :

                Muôn từ vạn ngữ rơi đầy lối.

               Nhặt chắp thành thơ tặng đất trời

                                                    (Tự bạch)

Số lượng thơ Lê Mỹ làm dễ có đến xấp xỉ bốn con số. Thơ Lê Mỹ sâu lắng mang tính triết lý nhưng gần gụi với mọi người. Từ học giả đến bình dân ai đã nghe thơ anh đều cảm nhận và yêu thích cứ như là anh nói hộ những điều người ta muốn nói. Ở bất kỳ chỗ nào dù là quán bia hơi hay hành lang hội nghị lúc giải lao sa lông phòng trà sang trọng hay trong bàn tiệc những cuộc gặp mặt bạn bè… cứ có người yêu cầu là Lê Mỹ có thể đọc ngâm trình diễn chia xẻ với mọi người một cách rất thoải mái.

Có những bài thơ gần như Lê Mỹ làm trong mơ đến lúc tỉnh dây đọc lại thấy thất luật sửa lại cho đúng luật thì bàu thơ không còn giữ được nguyên ý tứ nữa.Thôi đành chịu thất luật vậy. Đó là trường hợp hai bài thơ anh làm trong một đêm nghỉ lại ở Chùa Tiêu ( Từ Sơn – Bắc Ninh). Hai bài thơ này đã được khắc vào bia đá gắn ở Tam bảo Chùa Tiêu.

Phú cũng là một thể loại thuộc thế mạnh của Lê Mỹ.

Năm 2005 bài Chúc văn dâng hương Lê Thái Tổ và bài cáo yết Tổ Lê của anh đã vượt qua bài của các địa phương khác được chọn để tuyên đọc ở Lam Kinh

với sự diễn xuất minh hoạ của Đoàn Tuồng Thanh Hóa. Rồi năm 2007 ở Hoàng thành Thăng Long chúc văn của anh lại được chọn để tuyên đọc trong buổi lễ dâng hương kỷ niệm 580 năm Lê Thái Tổ đăng quang. Mới gần đây thôi năm 2010 được Ban liên lạc toàn quốc họ Lê tín nhiệm anh đã phụng thảo chúc văn dâng hương vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư – Ninh Bình. Biết tiếng anh khá nhiều Ban liên lạc các dòng họ đã cung cấp tài liệu nhờ anh viết chúc văn dâng hương tổ tiên dòng họ mình.

Nói Lê Mỹ là người có căn có cơ duyên với chữ nghĩa quả không sai.

Sau nhiều năm mần mò anh đã sáng tạo được một kiểu thư pháp riêng của mình : Thư pháp Việt – Nho mang thương hiệu Lê Mỹ . Thư pháp của anh không giống bất kỳ loại thư pháp chữ Việt viết theo kiểu chữ Nho nào có trước đó. Nó không khuôn sáo cứng nhắc mà uyển chuyển mềm mại thanh thoát và cũng không hẳn là khó đọc. Chỉ cần tinh ý một chút sẽ nhận dạng được các con chữ dò đọc được vài ba từ là nắm được quy luật. Cứ thế đọc cả bài một cách dễ dàng.

Mới cach đây khoảng một năm thôi được một người bạn cho xem mấy bài báo nói về chữ Việt cổ và một tài liêu nghiên cứu giải mã chữ Việt cổ của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền. Ánh say sưa tìm hiểu học thuộc từng con chữ nắm quy luật ghép vần ghép tiếng nghĩ cách tạo dáng thư pháp cho các con chữ cổ. Anh đã thành công. Nhiều bài thơ mừng thọ các thi hữu cao niên mừng hạnh phúc con cái bạn bè mừng bạn làm nhà mới…được anh thể hiện thư pháp bằng chữ Việt cổ Việt – Nho. Thực là món quà quý giá với những ai được tặng. Người ta nói cái tuổi Bính Tuất là cái tuổi tài hoa. Có lẽ cũng chẳng ngoa.

Lê Mỹ vẫn hằng ngày luyện tập để nâng cao kỹ năng đọc viết và thư pháp chữ Việt cổ. Anh hy vọng đến ngày nào đó công trình chữ Việt cổ được công bố và được thừa nhận. Lúc đó anh sẽ mở lớp dạy chữ Việt cổ và thư pháp chữ Việt cổ để ngày càng có nhiều người biết và yêu quý thứ chữ của tổ tiên cha ông để lại

Một ước vọng tốt đẹp và có ý nghĩa. Chúc anh sớm toại nguyện.

 

                                                           MINH TRANG

                              TRUNG TÂM VĂN HÓA NGƯỜI CAO TUỔI VN

 

Bạn đọc có thể liên hệ với Lê Mỹ qua các kênh sau :

         ĐTDD : 0123 923 8892

         NR :  Số 51 ngõ 306 phố Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội

 

Dưới đây là mấy bài Lê Mỹ  về đề tài  THƠ & RƯỢU

 

 

   THƠ TÚI RƯỢU BẦU

 

Rạch ròi biển chữ rõ châm ngôn                       

Nào ngán dăm ba cái sóng cồn 

Thơ túi lặc lè chơi đủ lối

Rượu bầu túy lúy mặc càn khôn

Tâm hồn lai láng thèm chi tiếng

Tính khí xênh xang sợ đếch đồn

Thoải mái vô tư chơi tới bến

Mây chiều bảng lảng chết thì chôn   

 

        THƠ LÀ RƯỢU CHỮ

 

        Chữ là hạt gạo trắng thơm

Làm văn là nấu nên cơm ngon lành

        Đồ xôi men ủ trăng thanh

Cất chưng ngưng đọng mới thành rượu thơ

 

 

            HẠT  BUỒN

 

Tại ai gieo cái hạt buồn

Để ta vụng dại gặt luôn mùa sầu

Mang về chẳng biết phơi đâu

Đành đem ủ nấu lấy bầu rượu thơ

 

   TUYÊN NGÔN THI TỬU HỮU

 

Khướt khượt khườn khươn

                            vưỡn tới mày

Uống thêm vài chén

                            để cùng say

Nghiêng vò dốc cạn

đời trơ đáy

Tao vưỡn thì tao

mày vưỡn mày

 

        THÚ CHƠI  SAY

 

Trời cho hứng cảm thú chơi say

Tìm cái hư  vô cõi thế này

Rao bán ưu tư mời vị đắng

Gạ mua quên lãng chuốc men cay

Tiểu nhân quá chén trơ lòng dạ

Quân tử thừa chung tỏ mặt mày

Túy lúy càn khôn gieo mộng ảo

Nhâm nhi sầu tục nhả hồn chay

 

More...

TÍNH DỊU DÀNG

By Lê Đình Lai

 alt

        Khi nhìn thấy cảnh bạo lực học đường trên video clip mà thấy rợn người không hiểu nổi !

        Tại sao ở lứa tuổi học trò – nhất là các trò gái - mà các cháu lại có những hành động như vậy?

        Lỗi tại ai ?  Tại Nhà trường? Xã hội ? Gia đình? Bản thân cá cháu ?

        Tại tất cả. Mỗi đơn vị chưa chu đáo một chút sai xót khiếm khuyết một chút dẫn tới hậu quả đáng buồn như vậy

       Tôi chỉ muốn tâm sự với các cháu :

Là gái nhất cần tính dịu dàng

Quá đà nghịch ngợm. Chớ! Đừng ham

Khoan thai đi đứng cho nền nã

Từ tốn nói năng chẳng sỗ sàng

Hay hớm gì đâu trò sấn sổ

Yêu vì biết mấy nết đoan trang

Phong sang no đói hay nghèo khó

Đừng để vơi đi tính dịu dàng.

                                             L.Đ.L.

alt

More...

LUẬT BẤT THÀNH VĂN. Thơ. Lê Đình Lai

By Lê Đình Lai


Có một bộ luật không cần soạn thảo văn bản không cần thảo luận thông qua. Không cần văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành mà vẫn được thi hành rất nghiêm chỉnh Đối tượng áp dụng của lật này có thể tới 99 9999% dân số.

Có thể nói bộ luật này chi phối mọi hoạt động trên mọi lĩnh vực của xã hội hiện nay không chừa lĩnh vực nào cả.

 Đó là :

         LUẬT BẤT THÀNH VĂN

 

Luật bất thành văn – Kể cũng hay

Tờ xanh tuỳ việc tệp mỏng dày

Khó khăn cản trở bay ráo cả

Luật bất thành văn thế mà “hay”

 

Luật bất thành văn – Một sân chơi

Một bên “Tự nguyện” một bên đòi

Thoả mãn thì cùng vui vẻ cả

Nếu không ? Đành phải phép công thôi

 

Luật bất thành văn có khắp nơi

Giao Thông Xây Dựng : Thật quá trời

Thuế Vụ Hải Quan : Đều có cả

Công An Toà Án : Mặc! Cứ xơi

 

Luật bất thành văn nghĩ mà buồn

Công trình trọng điểm bị đem buôn

Chất lượng thế nào ai cũng biết

Chẳng mấy thời gian xuống cấp luôn.

 

Luật bất thành văn thấy mà cay

Quan tham một lũ túi càng dày

Nước nghèo dân khổ tiền theo gió

Chúng thuộc câu; “Sống chết mặc bay…”

 

Nạn nhân của luật bất thành văn

Là bác là tôi là chị anh…

Là Đảng là dân là tất cả

Để hay trừ Luật bất thành văn ?

 Liệu có thể trừ được không? Và bằng cách nào ?

L.Đ.L.

More...

KẾT NỐI BẠN THƠ. Lê Đình Lai

By Lê Đình Lai

 

  Ở quê lúa Thái Bình có cụ giáo già đã tám mươi tuổi hay làm thơ. Cụ bị liệt nửa người bên phải kiên trì luyện tập cụ đã viết được bằng tay trái rất đẹp.

Nhiều bạn thơ động viên cụ nên có tập thơ mừng thọ tuổi 80.Cụ đã làm bài "XUÂN XINH" mời bạn thơ xa gần mọi miền đất nước hoạ  lại.

Cảm phục trước nghị lực và tâm hồn thơ của cụ xin giới thiệu với bạn thơ xa gần bài xướng của cụ mong các bạn thơ hưởng ứng để động viên  cụ:       

                                 XUÂN XINH 

             Tuổi vàng tám chục mãi xuân xinh
             Bè bạn đông vui bát ngát tình 

             Mến cậu giáo quê - Lòng khát vọng
             Quý anh tàn phế - Dạ kiên trinh
             Nằm nghiêng viết phú - Say ngâm vịnh
             Ngồi ngửa đọc thơ - Khoái luận bình
             Xao xuyến tim hồng yêu đắm đuối
             Đường thi quyến rũ ngát hương Quỳnh! 


                                TRẦN QUANG THẨM          

           Việt Yên - Điệp Nông - Hưng Hà - Thái Bình

Bài họa các bạn thơ có thể gửi trực tiếp về  cụ giáo Thẩm theo địa chỉ trên hoặc gửi vào Blog của tôi . Tôi sẽ lấy ra gửi về Cụ giáo.

Thay mặt cụ giáo cảm ơn sự hưởng ứng của các bạn  yêu thơ xa gần.
          


                           MỘT ĐÓA QUỲNH

 

                      Đã tám chục rồi muốn níu xinh
                    Bạn bầu cũ mới nặng ân tình
                    Kệ thây bệnh hiểm - Nuôi hy vọng
                    Mặc xác xô bồ - Giữ trắng trinh
                   Thi hữu trùng phùng - Vui xướng vịnh
                   Tri âm tương ngộ - Thú đàm bình
                   Bơi trong biển chữ không hề đuối
                   Thơ lão thi huynh một đóa Quỳnh

                                    LÊ  ĐÌNH  LAI

Bài họa của Bs. Tản:

LÃO THI NHÂN

Tám chục tuổi rồi chữ vẫn xinh
Thất ngôn bát cú chứa chan tình
Xanh như mầm lá khoe chồi nụ
Trắng tựa môi nàng nhoẻn đóa trinh
Sông nước mênh mang trầm thế thái
Cánh đồng bát ngát mộng thanh bình
Thi nhân lãng tử khao bè bạn
Trà thắm hương hoa một nhánh quỳnh

Học trò trường thuốc

 Bài họa của bác Hồ Văn Thiện:

Mừng bát thập hồi xuân

Tám mươi xuân sắc hẳn còn xinh
Thơ lão mang mang chứa chất tình
Nghe thuở đưa đò không mệt mỏi
Gặp cơn tai biến vẫn trung trinh
Dưỡng sinh nhẫn nại rèn chưa nghỉ
Thi phú ngâm nga xướng lại bình
Chúc bác đường chiều vui bạn hữu
Đêm thanh ngắm nguyệt thưởng hoa quỳnh
22-4-2011
Hồ Văn Thiện
601/cc ngõ 699 Trương Định- Hà nội

Bài họa của Lê Trường Hưởng:

ĐỜI VẪN ĐẸP XINH

Tám chục thấy đời vẫn đẹp xinh
Hồn thơ chan chứa biết bao tình
Mến yêu cuộc sống luôn bền chặt
Tin tưởng ngày mai vẫn chữ trinh
Tay phải liệt còn tay trái viết
Nửa thân tê vẫn miệng ngâm bình
Bạn bè xướng hoạ vui thi phú
Đêm đến say sưa ngắm đoá Quỳnh!
L.T.H.

Bút tích của cụ Trần Quang Thẩm:

 

More...

CỘT ĐÁ THỀ TRÊN ĐỈNH NGHIÃ LĨNH ĐƯỢC KHẮC BẰNG LOẠI CHỮ NÀO ?-Lê Đình Lai

By Lê Đình Lai

alt
        Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh

CỘT ĐÁ THỀ TRÊN ĐỈNH NGHIÃ LĨNH
ĐƯỢC KHẮC BẰNG LOẠI CHỮ NÀO
?

Báo An ninh Thủ đô số 3161(3996) ra ngày 10/ 3/ 2011 có đưa đến với bạn đọc một thông tin rất thú vị: Cột đá thề trên đỉnh Nghĩa Lính đã được phục dựng thành công và lễ hội Đền Hùng năm 2011 con đân nước Việt sẽ được chiêm ngưỡng “thưởng ngoạn một công trình nghệ thuật mang tính tâm linh tôn nghiêm nơi đất Tổ thiêng liêng
Sau khi kể lại quá trình tìm được khối đá ngọc Mã Não nặng khoảng bảy tấn quá trình đưa được khối đá lên đỉnh Nghĩa Lĩnh bằng phương pháp thủ công bảo toàn được cảnh quan để phục dựng cột đá thề tác giả Yên Vân viết: Mặt trước cột đá dành khắc lời thề của Thục Phán “ Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét Nước Nam được trường tồn lưu ở miếu tổ Hùng Vương. Nếu vua sau nối trị mà trái ước nhạt thề sé bị trời dập đất vùi
Sau khi đọc hết bài báo điều khiến tôi băn khoăn suy nghĩ là không biết lời thề của An Dương Vương Thục Phán được khắc bằng loại chữ nào trên khối đá quý đó? Chữ Hán ? Chữ quốc ngữ ? Hay chữ gì khác.?
Chữ quốc ngữ ư ? Tất nhiên rồi ! Lời thề của tiền nhân ngày trước đặt ở nơi thờ Tổ Hùng Vương tôn nghiêm linh thiêng tất nhiên phải bằng chữ Việt để cho con dân nước Việt đọc được. Nhưng liệu như thế có đủ và phù hợp với cột đá thề có từ hơn hai ngàn năm trước đây nay được phục dựng đặt ở nơi Miếu Tổ ?
Chữ Hán ư ? Theo thiển ý của tôi nếu lời thề của Thục Phán An Dương Vương được khắc bằng chữ Hán lên khối đá quý ấy chắc Tổ tiên sẽ nổi giận và đá quý sẽ tủi hờn! Tại sao vậy?
Ta hãy lần giở lại lịch sử một chút.
Chữ Hán đựoc “nhập” vào đất nước ta từ năm 186 sau CN do Sĩ Nhiếp đưa sang mà Thục Phán An Dương Vương thì có trước đó khoảng ba-bốn trăm năm. Lâu hơn nữa từ thời các Vua Hùng dân Bách Việt đã có chữ rồi. Cổ sử Trung Quốc và Thông Giám cương mục của Chu Hy đời Tống có chép rằng : Thời Đường Nghiêu thứ 5 (2357 trước CN) Hùng Quốc Vương đã cho sứ sang dâng một “ Thần Quy thiên tuế ” trên lưng có khắc loại chữ trông lúc thì như đàn nòng nọc đang bơi lúc thì như ngọn lửa vờn gần giống như chữ Khoa Đẩu của họ nhưng không ai đọc được. Sứ thần phải đọc và dịch mọi người mới biết những điều ghi trên lưng Rùa nói về sự việc từ khai thiên lập địa cho đến thời Hùng Quốc Vương. Vua Nghiêu sai chép lại gọi là Quy lịch …Và sau này trong tờ tấu gửi về Hán Quang Đé (năm 43 sau CN) Mã Viện có tâu: Từ xưa dân Giao Chỉ đã biết làm giấy Mật Hương loại giấy trắng thả xuống nước không nát…
Như vậy là từ thời Hùng Vương dân tộc ta đã có chữ viết riêng có giấy để viết chữ.
Đến nay - đầu thế kỷ XXI - sau gần một thế kỷ tìm tòi sưu tầm nghiên cứu không những các nhà nghiên cứu trong nước mà ngay cả các nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh Tiệp Khắc Mỹ Pháp và nhất là Trung Quốc… đều khẳng định dân tộc Việt từ xa xưa đã có chữ viết riêng.
Từ thời Sĩ Nhiếp rồi tiếp theo là gần một ngàn năm Bắc thuộc với mục đích đồng hóa dân ta chữ Việt cổ bị xóa bỏ bị tàn sát thậm chí bị truy sát tàn bạo đến mức ngay sau khi giành được độc lập (938 sau CN) cho đến ngày nay các thế hệ con dân đất Việt không biết rằng cha ông tổ tiên mình từ xa xưa đã có chữ viết riêng. Từ các văn bản của triều đình trong khoa cử học thuật văn thơ…vẫn phải dùng chữ Hán sau có thêm chữ Nôm và từ thế kỷ XVII thì mới có chữ quốc ngữ hiện tại . Không ít người cho rằng một số giáo sĩ phương Tây đã có công tạo ra chữ viết cho dân tộc mình chứ có biết đâu rằng họ chỉ có công la tinh hóa các ký tự của tổ tiên còn cấu trúc quy luật ghép vần ghép tiếng thì cơ bản vẫn trên cơ sở bộ chữ của cha ông ta có từ xưa
Như vậy chắc chắn rằng thứ chữ khắc lời thề của Thục Phán An Dương Vương vào cột đá thề xưa kia phải là thứ chữ của dân tộc ta hồi đó: chữ Việt cổ – chữ thời Hùng Vương. Thứ chữ này đã tồn tại ở đất nước này nhiều ngàn năm trước khi Sĩ Nhiếp đưa chữ Hán sang . Do đó thiết nghĩ côt đá thề mới được phục dựng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh cũng cần phải được viết bằng chữ Việt cổ thời Hùng Vương mới hợp lý mới đúng với ý nghĩa của việc phục dựng mới phù hợp với sự linh thiêng tôn nghiêm nơi Miếu Tổ và làm tôn lên giá trị của khối đá quý này. Chữ quốc ngữ hiện tại là phần dịch minh họa để người xem biết được nội dung lời thề được ghi bằng chữ Việt cổ mà thôi.
Cũng như sức sống mãnh liệt của dân tộc chữ Việt cổ dù bị truy sát đến mức cùng cực vẫn âm thầm tồn tai nhờ công lao của bao con dân đất Việt đã cất dấu lưu giữ dưới nhiều hình thức nhờ công lao của rất nhiều nhà nghiên cứu tiền bối như Vương Duy Trinh Trương Vĩnh Ký Phạm Thận Duật Philip Bỉnh…đến Hà Văn Tân Lê Trọng Khánh Bùi Văn nguyên Trần Ngọc Thêm…Đầu thế kỷ XXI công trình sưu tầm nghiên cứu giải mã bộ chữ Việt cổ thời Hùng Vương đã đi đến những bước hoàn tất cuối cùng.
Nhà giáo nhà văn Đỗ Văn Xuyền (bút danh Khánh Hoài) là người đã giải mã được bộ chữ Việt cổ.
Nhờ sự giải mã này mà hàng ngàn trang “chữ viết lạ” được lưu giữ ở Sơn La ở Tòa thánh Vatican những từ những giòng “chữ lạ” xen lẫn trong cuốn tự điền Việt-Bồ Đào Nha-La tinh (xuất bản năm 1651 ở Roma) rồi Sách giảng tám ngày Sách sổ sang… mà từ trước đến nay thế giới không ai biết nó là thứ chữ của dân tộc nào đã được người Việt Nam đọc lên thành lời. Không những thế ông còn lập được bản đồ những nơi có trường học với tên tuổi Thày Cô giáo và học trò thời Hùng Vương những nơi có hiện vật có dấu tích chữ Việt cổ trên giấy trên đá trên đồ đá đồ đồng đồ gốm…
Một người đã bỏ ra hơn năm mươi năm trên cuộc đời bảy mươi sáu tuổi của mình để tìm tòi sưu tầm nghiên cứu và giải mã được bộ chữ từ thời Hùng Vương để lại thì công trình của ông sự lao động và tự nguyện hy sinh dấn thân của ông xứng đáng được ghi nhận trân trọng và tôn vinh.
Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương nguyên Phó Thủ tướng – GS Trần Phương Phó Thủ tướng-Bộ trưởng bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân…đã từng nghe ông thuyết trình về công trình này. Các nhà lãnh dậo Đảng và Nhà nước đã động viên khuyến khích ông hoàn thành thật tốt công trình. Hy vọng ngày nào đó công trình của ông sẽ được chính thức công bố và được thừa nhận.
Nhà thơ nhà thư pháp Lê Mỹ chưa hẳn đã là nguời đầu tiên ở Hà Nội biết đọc viết được chữ Việt cổ . Nhưng anh là người đầu tiên và duy nhất-cho đến hôm nay- đã trưng bày thơ và thư pháp viết bằng chữ Việt cổ trong ngày thơ Việt Nam lần thứ IX được tổ chức tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám dịp tết Nguyên Tiêu Tân Mão 2011 vừa qua.Mong rằng thứ chữ dùng để khắc lời thề của An Dương Vương Thục Phán lên cột đá mới được phục dựng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh là thứ chữ của Tổ tiên để lại. Nếu điều hy vọng này là hiện thực thì quả là may mắn và hạnh phúc. Còn nếu lại được ghi bằng thứ chữ gì khác không phải là chữ Việt cổ và chữ quốc ngữ thì quả thật là bất hạnh và chua xót !
Xin lạm đàm thêm một điều.
Đền Hùng - Nơi thờ tổ Hùng Vương là miền thiêng liêng trong sâu thẳm tâm linh của mọi con dân nước Việt. Vậy mà những câu đối trên khu vực đền Hùng hiện nay đều dùng chữ Hán . Đành rằng những câu đối đó được làm cách đây chưa nhiều trăm năm lắm trong hoàn cảnh lịch sử nhất định nên người đời sau mặc nhiên thừa nhận. Liệu có mấy ai nghĩ điều đó có gì động chạm đến từ trong sâu thẳm lòng tự tôn dân tộc hay không? Nơi thờ Tổ tiên của dân tộc Việt phải mang yếu tố thuần Việt nhất là về chữ nghĩa ngôn từ.
Xin hiểu cho là tôi không hề có ý gì dám bài xích thứ chữ nước ngoài này cả (ngay bản thân tôi cũng đang cố gắng học thứ chữ này để mong đọc đựoc câu đối ở các đình chùa miếu mạo…). Nhưng thử hỏi câu đối để ở nơi thờ tổ tiên dân tộc có nên dùng thứ chữ mà ta bị áp đặt bắt buộc phải dùng khi bị xâm lược đô hộ gần một ngàn năm hay không khi mà ta đã tìm lại và giải mã được chữ của tỏ tiên chữ của chính thời đại Hùng Vương để lại cho chúng ta?
Hẳn rằng khi đọc những câu đối bằng thứ chữ mình để lại cho con cháu anh linh Tổ tiên sẽ rất vui vì thấy hậu duệ hàng ngàn đời của mình vẫn biết đường tìm về với Tổ tiên với nguồn cội !
               
               LÊ ĐÌNH LAI
 
TRUNG TÂM VĂN HÓA NGƯỜI CAO TUỔI VN

More...